R.J. Del Vecchio Washington Examiner Article in Vietnamese

From Vietnam Veterans for Factual History
Jump to: navigation, search

Những sai trái trong phim tài liệu “Chiến Tranh Việt Nam” của Ken Burns trên đài PBS

R. J. Del Vecchio ngày 19 tháng 11 năm 2017

Một số cựu chiến binh và sử gia khác nhau đã từng đưa ra những phê bình về những tập phim tài liệu “Chiến Tranh Việt Nam” của Ken Burns và Lynn Novick, và họ đã chất vấn cả hàng mấy chục điểm, nhưng tôi chỉ muốn đề cập đến một điểm có lẽ là đơn giản nhất: đó là việc [Ken Burns] chỉ lướt sơ qua chính sách độc ác, có chủ ý, được quân đội cộng sản thực thi một cách gắt gao, nhưng lại chiếu rọi ánh sáng vào thiểu số sự kiện tàn ác do quân đội Mỹ gây nên.

Sự khủng bố mà Việt cộng gây nên mang tính cách liên miên và phổ quát; vào khoảng cuối năm 1968, gần 62,000 người dân miền Nam bị ám sát, bắt cóc, không bao giờ còn trông thấy họ nữa. Giáo chức, cảnh sát, xã trưởng, các nhà sư, binh sĩ, và nhiều người khác nữa, đều bị giết – đôi lúc toàn bộ gia đình, và có lúc bị giết một cách hết sức dã man.

Những vụ thảm sát có tổ chức ở Huế trong dịp Tết nay đã tăng lên đến trên 5,000 người, gồm có cả những bác sĩ người Đức, các cha cố người Pháp, và nhiều người khác – một số bị bắn,một số khác thì bị đánh vỡ đầu, và nhiều người khác thì bị chôn sống.

Ở tại làng Dak Son vào tháng 12 năm 1967, hơn 250 người dân làng không mang vũ khí đã bị súng phóng lửa của quân đội miền Bắc thiêu cháy rụi. Chúng ta nhìn thấy hình ảnh những người bị thảm sát ở Mỹ Lai, nhưng không ai được nhìn thấy những thân xác cháy rụi ở Dak Sơn hay những phần thân xác còn lại được đào lên ở Huế, cườm tay bị trói cột vào nhau, hay mồm bị nhét dẻ xuống tận đến cuống họng.

Đâu là sự “quân bình” khi mà những hành động tang thương và ô nhục của một vài đơn vị hay cá nhân, đi ngược lại chính sách của Mỹ, những lệch lạc chệch hướng, chứ không phải là kế sách thực thi căn bản, lại được đánh nổi bằng nhiều chi tiết gây niềm đau, trong lúc chính sách có chủ ý vạn lần to lớn hơn của đối phương lại chỉ được lướt qua một cách ngắn gọn, và hằng ngàn cái chết oan ức do chính sách này đưa đến lại không được triển khai?

Một cách để phán xét tính luân lý của cuộc chiến là những gì xảy ra khi chiến tranh đã chấm dứt.

Tại Âu châu, khi Đại Chiến II chấm dứt, những trại tử thần đóng cửa, các tự do được phục hồi, hàn gắn bắt đầu. Ở Việt Nam sau 1975, hằng chục ngàn người bị hành quyết, và trên cả triệu người phải vào trại tập trung, có khi lâu đến cả 18 năm với một tử suất cao vì đói, vì lao động kiệt lực, và vì bị đối xử bạo tàn.

Tất cả báo chí đều bị đóng cửa, tài sản bị tịch thu, và tình trạng trở nên tồi tệ đến độ hơn cả 2 triệu người phải rời quê cha đất tổ để trốn thoát. Trên 250,000 người đã rời bỏ miền Bắc để trở nên nhưng người di cư ở bên Trung quốc. Những người trốn thoát bằng thuyền hay tìm cách đi bộ đến Thái Lan bằng cách băng qua những “cánh đồng giết người” ở Căm Bốt thì nắm chắc 25% là phải chết.

Việc áp đặt nền kinh tế Mác-xít đã đưa đến nạn gần chết đói và tử suất của trẻ em sơ sinh rất cao trên toàn cõi Á châu. Nhiều nhóm tôn giáo bị bách hại và bị nhà nước kiềm toả ở nhiều tầng lớp khác nhau vì “chính sự an nguy” của chính họ.

Tất cả những người trước đây đã từng làm việc cho chính quyền Sài Gòn, ngay cả trong những công việc nhỏ mọn nhất, cũng bị kỳ thị về công việc làm ăn, về nơi ăn chốn ở, về giáo dục; sự kỳ thị này đeo đuổi từ cha mẹ, đến con cái, đến cả cháu chắt.

Những hứa hẹn tuyệt vời của Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia, được tuyên truyền với thế giới như là một thực thể hoàn toàn thuộc miền Nam, không bao giờ còn thấy được lặp lại nữa, và người cộng sản đối xử với họ như là những thứ bù nhìn – rốt cuộc, họ đã tự nguyện giải tán trong bực bội và ghê tởm.

Một số trong những người này cuối cùng đã trở thành những người di cư trốn tránh đất nước mà họ đã từng chịu khổ đau trong bao nhiêu năm đấu tranh cật lực. Vì thế “giải phóng và công lý” lẽ ra đáng đã phải đến với việc Hà Nội tiêu diệt Việt Nam Cộng Hoà, hoá ra lại trở thành một cái gì rất khác với điều mà những người chân thành hỗ trợ phản chiến nghĩ là họ đã xuống đường để tranh đấu cho kỳ được.

Tất cả những điều này cho chúng ta thấy sự thực của chiến tranh là gì.

Không phải là một cuộc chiến “giải phóng” miền Nam vì tinh thần quốc gia, mà là một cuộc xâm lăng của người cộng sản nhằm áp đặt thể chế cộng sản lên một dân tộc, mà sau Tết [Mậu thân] 1968, hoàn toàn không muốn sống dưới thể chế này.

Ngày hôm nay, Việt Nam vẫn còn mang xú danh về những vi phạm nhân quyền, về tham nhũng thối nát tràn lan, và về một giới thượng lưu đầy đặc quyền đặc lợi, giàu sụ, gửi con cái đi học tại các đại học Mỹ.

Đây là những sự thật mà người Mỹ cần biết – chứ không phải những sai lạc, những bỏ sót, và sự thiên lệch của những tập tài liệu trên đài truyền hình. Nhiều cựu chiến binh đang chờ xem phản hồi của Ken Burns đối với một cuộc thảo luận cởi mở và công cộng về nội dung của những tập tài liệu về chiến tranh Việt Nam.

R.J.Del Vecchio là thư ký điều hành cho báo Vietnam Veterans for Factual History (www.vvfh.org) & (wiki.vvfh.org)

Back to Part V. The Vets Strike Back

Back to Start